Trang 1 / 3 123 LastLast
Bài 1 đến 10/23

Chủ đề: Bàn Về Thơ Đường

  1. #1
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Bàn Về Thơ Đường

    Như chúng ta đã biết. Thơ Đường là một thể loại thơ đặc biệt với nhiều quy tắc ràng buộc. Những nghiên cứu từ cổ nhân đã tạo cho thơ Đường một bản sắc độc đáo, hoàn chỉnh về nhiều góc độ. Tuy có những gò bó, hạn chế nhưng nếu người làm thơ thể hiện được sự thanh thoát, thi vị của thơ thì đó mới gọi là sự tài tình. Nhân tiện đọc bài viết của Hoàng Thứ Lang, KHT xin mạn phép lấy làm tài liệu tham khảo cho các bạn yêu thích thể loại này nghiên cứu thêm.

    Thơ Đường luật (Luật thi)

    Tiền Mộc Yêm, tác giả sách Ðường Ẩm Thẩm Thể nói rằng: “Luật đây là sáu luật, là luật hòa hợp âm thanh. Luật thơ cũng giống như kỷ luật dụng binh, pháp luật hình án, nghiêm ngặt chặt chẽ, không được vi phạm”. Có thể giải thích thêm về thể cách của luật thi như sau:

    a. Trong một câu, bằng trắc cần phải điều tiết.
    b. Trong khoảng hai câu liền nhau, sự đối ngẫu cần phải khéo.
    c. Trong một bài, âm thanh cần phải chọn sao cho có sự cao thấp, bổng trầm.
    Tóm lại, ba điều kiện cần thiết của luật thi là niêm, luật và đối.

    Về đối ngẫu, Lưu Hiệp đời Lục Triều, tác giả sách Văn Tâm Ðiêu Long, đã phân biệt bốn cách là: Ngôn đối, Sự đối, Chính đối và Phản đối. Ngôn đối là đối bằng lời suông. Sự đối là đối bằng điển cố. Hai câu mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý, là chính đối. Nếu hai sự việc đó trái ngược nhau, thì gọi là phản đối. Sự đối và phản đối khó làm hơn và có giá trị hơn là ngôn đối và chính đối.

    Ðến thời Sơ Ðường, Thượng Quan Nghi phân biệt sáu cách đối là:

    1. Chính danh đối, như càn khôn đối với nhật nguyệt.
    2. Ðồng loại đối, như hoa diệp đối với thảo mao.
    3. Liên châu đối, như tiêu tiêu đối với hách hách.
    4. Song thanh đối, như hoàng hòe đối với lục liễu.
    5. Ðiệp vận đối, như bàng hoàng đối với phóng khoáng.
    6. Song nghĩ đối, như xuân thụ đối với thu trì.
    (theo sách Thi uyển loại cách)

    Một bài luật thi hoàn chỉnh dùng vào việc ứng chế, ứng thí, có thể định nghĩa là một bài thơ tám câu hoặc năm chữ ngũ ngôn luật thi hoặc bảy chữ thất ngôn luật thi, phải theo những qui tắc nhất định về niêm, luật; bốn câu 3,4 và 5,6 phải đối nhau từng đôi một.

    Ngoài những bài có bốn câu giữa đối nhau, cũng có những bài hoặc sáu câu toàn đối, hoặc tám câu toàn đối.

    Về vận, bài luật thi bắt buộc phải dùng vận chính (không được dùng vận thông, vận chuyển), căn cứ vào cuốn qui định vận bộ do triều đình ban hành. Ðời Ðường Huyền Tông có cuốn “Vận Anh”, cải biên theo cuốn “Thiết Vận” của Lục Pháp Ngôn đời Tùy, rồi cuốn “Ðường Vận” của Tôn Miễn, bổ khuyết sách trên.

    Về việc dàn ý, bài luật thi vốn có bố cục như sau: các câu 1, 2 là khởi (khai), các câu 3, 4 là thừa, các câu 5, 6 là chuyển, các câu 7, 8 là hợp (hạp). Ngoài các câu đầu và kết ra, trong những câu giữa, muốn nói gì cũng được, không có lệ nhất định. Chỉ trong những khoa thi về sau, bài luật thi mới có bố cục chật hẹp (phá, thừa, thực, luận, kết).
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  2. #2
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    "Thể thơ Đường luật, về hình thức, các nhà thi học đều công nhận là toàn hảo. Nhưng nó chỉ thích hợp với những tình cảm đã được tiết chế, với những tâm hồn trầm tĩnh, với những người nặng về đời sống nội tâm. Nó không còn thích hợp với người hiện đại, bởi lòng luôn bị ngoại cảnh chi phối, rất ít khi được yên tĩnh, ung dung, nhịp lòng và nhịp thơ không thể hài hòa với nhau được thỏa đáng".

    Thơ có nhiều thể, thể nào cũng có ưu điểm, khuyết điểm hoặc nhược điểm. Chúng ta chọn thể thơ Đường luật là vì thể thơ này thích hợp với tâm hồn của chúng ta. Thể thơ này đã bị các nhà Thơ Mới đả kích dữ dội ngót mười năm từ 1932 đến 1941. Bị công kích, đả đảo ngay khi thể thơ mới ra đời, đã bị một số danh gia, như Lý Thái Bạch, Hàn Sơn ... chỉ trích nặng lời, chớ chẳng đợi đến các thi nhân sanh sau hàng ngàn năm.
    Bị đả kích mà vẫn tồn tại bởi có những ưu điểm. Trừ những kẻ thiên kiến, những người không độ lượng, không ai phủ nhận, không ai nỡ hủy diệt, trái lại còn rũ lòng ấp ủ nâng niu

    Để mở đầu phần Thi Pháp Thơ Đường Luật, hôm nay Hoàng Thứ Lang xin trích bàn về Phép dụng tự.

    Thơ Đường thường dùng thực tự ít dùng hư tự.
    Các nhà thi học đời sau thường nhận xét rằng: "Thơ mà dùng hư tự không hay". Đó là lời của Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên. Người đồng thời cùng họ Triệu là Phạm Phanh nói thêm: "Thơ dùng nhiều thực tự thì mạnh, dùng nhiều hư tự thì yếu". Tạ Trăn cũng nói: "Dùng nhiều thực tự thì ý giản mà câu mạnh, dùng nhiều hư tự thì ý phồn mà lời yếu".
    Xét kỹ thì Cổ Thi thường dùng hư tự, Luật Thi thường dùng thực tự. Đường nhân hay dùng thực tự, Tống nhân hay dùng hư tự.

    Nói là chuyên dùng, ưa dùng ... là chuyên dùng nhiều, ưa dùng nhiều tự loại này hơn tự loại kia đó thôi. Hư tự dùng để đẩy đưa lời thơ, để gắn nối chữ này với chữ nọ. Dùng nhiều thực tự quá câu thơ thành nặng nề. Dùng nhiều hư tự quá câu thơ trở nên lỏng lẻo bên lời, cạn cợt bên ý. Phải sử dụng sao cho thích ứng, cho cân xứng. Như thế mới là diệu thủ.

    Trong làng thơ Quốc âm, bà Huyện Thanh Quan hay dùng thực tự, bà Hồ Xuân Hương hay dùng hư tự. Tôn Thọ Tường thường dùng thực tự, Trần Tế Xương thường dùng hư tự.

    Dùng nhiều thực tự thì thơ cô đọng chững chàng. Dùng hư tự vừa phải thì thơ nhẹ nhàng bay bướm. Xin dẫn chứng:

    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
    (Bà Huyện Thanh Quan)

    Bát canh Quảng Võ ơn còn nhớ
    Chén rượu Hồng Môn lệ khó ngăn
    (Tôn Thọ Tường)

    Tóc vướng hơi hương vườn thúy liễu
    Lòng nương tiếng địch bến vi lô
    (Tú Xương)

    Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
    Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
    (Bà Huyện Thanh Quan)

    Nghi ngút tro tàn nền đạo nghĩa
    Lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh
    (Tôn Thọ Tường)

    Thà không trời đất không chi cả
    Còn có non sông có lẽ nào
    (Phan Sào Nam)

    Chiếc bá buồn vì phận mỏng mênh
    Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh
    Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng
    Nửa mạn phong ba luống bập bềnh
    Cầm lái mặc ai lăm đổ bến
    Giang chèo thây khách rắp xuôi ghềnh
    Ấy ai thăm ván căm lòng vậy
    Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh
    (Hồ Xuân Hương)

    Đó là những câu dùng hư tự nhiều mà hay, nhất là câu thơ của Phan Sào Nam thật là hy hữu.

    Dùng hư tự mà không khéo thì câu thơ thành non nớt, không truyền được cảm, mặc dù trong thơ có nhiều tình:

    Trên đài hiu hắt ngọn đèn hoa
    Gang tấc xem bằng mấy dặm xa
    Một kiếp đã đành rằng để vậy
    Chín trùng có thấu đến chăng là
    Ỏi tai ngán nỗi đàn ve gảy
    Tan mặt buồn tênh cái nhện sa
    Ví biết thân này chi khó bấy
    Quyền môn chen chúc chẳng bằng thà

    Đó là một bài thơ được truyền tụng nhan đề CUNG OÁN.
    Trong sách "Phép làm thơ" của Diên Hương chép là của Ôn Như Hầu. Theo Quách Tấn nhận xét thì không phải, vì bút pháp của Ôn Như Hầu rất già dặn, chải chuốt. Thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc đã nổi danh là điêu luyện đến mức, và những câu sau đây, chỉ vài câu còn truyền tụng thôi, cũng đủ chứng minh rằng những câu thơ quá dễ dãi trên đây không phải là di sản của Ôn Như Hầu:

    Cõi thế lênh đênh thuyền hạo kiếp
    Lẽ trời lồng lộng võng huyền cơ
    (Cảm tác - Ôn Như Hầu)

    Man mác cảnh đâu ngoài vạn dặm
    Bâng khuâng chuyện những mấy trăm năm
    (Nghe ếch kêu - Ôn Như Hầu)

    Lời thơ tự nhiên, lưu loát chớ không quê vụng như bài CUNG OÁN trên.

    Bài CUNG OÁN có nhiều chữ dư, tức là những chữ không cần thiết, chỉ đem vào cho đủ vế mà thôi. Chúng ta nên tránh.
    Chẳng những tránh dùng chữ thừa, mà còn tránh dùng một chữ đến 2 hoặc 3 lần, trừ khi cố ý nhấn mạnh, cố ý làm nổi bật một tứ thơ.

    Lỗi bị trùng chữ rất thường xảy ra. Đến các bậc lão luyện vẫn nhiều khi vấp phải. Như Tố Như trong bài Vọng Phu Thạch.
    Nhưng vì bài thơ có giá trị của viên ngọc liên thành, cho nên những vết nhỏ kia có thể bỏ qua. Tuy nhiên nếu viên ngọc toàn mỹ thì càng quý bội phần.

    Tản Đà thỉnh thoảng cũng không tránh khỏi. Tiên sinh có bài THEO VOI ĂN BÃ MÍA cũng bị phạm lỗi này.

    Chúng ta không phải như Tố Như, Tản Đà nên đừng bắt chước.
    Huống nữa đã là lỗi thì dù là của bậc đại gia văn chương đi nữa cũng không nên lấy đó làm gương.

    Tránh những chữ vô dụng, tránh những chữ trùng điệp.
    Lại còn phải tránh:
    1. Điệp thanh.
    2. Điệp âm.
    3. Điệp vận.
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  3. #3
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    --------------------------------------------------------------------------------

    Trong bài Phép dụng tự có đề cập đến việc bài thơ phải tránh:
    1. Điệp thanh
    2. Điệp âm
    3. Điệp vận

    Hôm nay xin được tiếp tục bàn về ba điểm trên. Trong phạm vi bài này chỉ bàn về Thơ Thất Ngôn Luật Thi mà thôi (Thơ Ngũ Ngôn Luật Thi sẽ bàn vào một dịp khác).


    1. Điệp thanh:

    Chữ thứ 4 và chữ thứ 7 trong các câu luật trắc vần bằng. Hai chữ ấy đều bình thanh thì thượng đoản hạ trường, hoặc ngược lại (thượng trường hạ đoản), chớ đừng dùng cả hai hoặc đều đoản hay đều trường.
    Thí dụ 1 (cả hai đều cùng đoản bình thanh):

    Thành Loa vừa thấy xây vua Thục
    Ải Lạng quanh coi đuổi giặc Ngô
    (Nguyễn Đỉnh Ngọc)

    Câu thơ không có tiếng ngân, hơi thơ đọc xong là đứt không đủ sức đi vào lòng người đọc người nghe.

    Tuy vậy vẫn còn đỡ hơn chữ thứ 4 và chữ thứ 7 đều cùng trường.
    Thí dụ 2 (cả hai đều cùng trường bình thanh):

    Nõn nà sắc nước nhờ ơn nước
    Ngào ngạt hương trời ngát dặm trời
    (Lê Thánh Tôn)

    Câu thơ quặp ở giữa lưng như bụi chuối bị gió thổi gãy, âm hưởng nghe chìm lỉm như tiếng trống bị đùn da. Lỗi này nên tránh.

    Thượng đoản hạ trường hoặc thượng trường hạ đoản thay đổi nhau thì câu thơ mới hài hảo.

    Tuy nhiên nếu chữ thứ 4 có một trường bình thanh đứng kề thì câu thơ lại đọc nghe êm tai.
    Thí dụ:

    Thay mười tám triệu người ăn nói
    Mở bốn ngàn năm mặt nước non
    (Trần Tế Xương)

    Mấy hàng tóc bạc từng dâu bể
    Một tấm lòng son giải núi sông
    (Đặng Xuân Bảng)

    Nói tóm lại trong một câu Thất Ngôn thì có hoặc 4 tiếng bằng 3 tiếng trắc, hoặc 4 tiếng trắc 3 tiếng bằng thì những tiếng bằng trắc ấy phải có thanh độ khác nhau, câu thơ mới giàu âm nhạc. Trong mỗi câu ít nhất là phải có 1 tiếng trường bình thì nghe mới êm. Nhưng chớ nên dùng nhiều trường bình quá. Nhiều trường bình làm cho câu thơ yếu ớt, giọng trầm trầm khó nghe. Trong một câu Thất Ngôn có 4 tiếng bằng thì dùng 2 tiếng trường bình là vừa. Nếu một câu có 3 tiếng bằng mà dùng trường bình cả 3, hoặc 4 tiếng bằng mà dùng đến 3 trường bình thì câu thơ nghe không được du dương trầm bổng, mặc dù không phạm lỗi gì cả.
    Thí dụ:

    Trời làm đá nát lại vàng sôi
    Thiên hạ trông mưa đứng lại ngồi
    Ngày trước biết gì ăn với ngủ
    Bây giờ lo cả nước cùng nôi
    Trâu mừng ruộng nẻ cày không được
    Cá sợ ao khô vượt cả rồi
    Tình cảnh nhà ai nông nổi ấy
    Quạt mo phe phẩy một mình tôi
    (Trần Tế Xương)

    Chúng ta nhận thấy câu đầu có 3 trường bình thanh trên 4, âm thanh nghe không được hài mỹ bằng những câu mà thanh độ điều hoà là các câu dưới.
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  4. #4
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    2. Điệp âm:

    Điệp thanh thì bằng vào thanh độ và chú trọng hai bình thanh là đoản bình và trường bình.
    Về điệp âm thì lưu ý đến những tiếng cùng một âm căn, như ban bàn bán bản bãn bạn, thanh thành thánh thảnh thãnh thạnh ... những chữ mà một hay nhiều mẫu tự đứng trước hoặc đứng sau giống nhau, như ba bốn bữa, mây man mác, núi nặng nề ... bối rối mối, mây vây cây v.v... Những chữ đồng âm mà để gần nhau, nhất là ba hoặc bốn chữ cùng một lượt, thì nghe như nói cà lăm, nói lắp bắp, rất chướng tai (cacophonie).

    Thí dụ:

    Thượng toạ thiền trung sư sự sứ
    Đình tiền túy tửu phụ phù phu

    Đường về xóm cũ mây man mác
    Nhớ đến người xưa nặng nỗi niềm

    Gặp mặt cô nàng tôi bối rối
    May nhờ lúc ấy tối rồi thôi

    Chúng ta cùng đọc và nhận xét bài thơ sau đây:

    Vô Đề

    Tiếng gà bên gối tẻ tè te
    Bóng ác trông ra loé loẽ loè
    Non mấy trùng cao chon chót vót
    Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
    Chim tình bậu bạn kìa kia kĩa
    Ong nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhe
    Danh lợi không màng ti tí tị
    Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe

    Nguyễn Thượng Hiền
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  5. #5
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    --------------------------------------------------------------------------------

    3. Điệp vận:

    Tương tự như điệp thanh. Điệp vận ở chữ thứ 4 và chữ thứ 7.
    Nhất là ở những câu luật trắc vần bằng.

    Thí dụ:

    Người hỡi Nghiêm Lăng có biết chăng
    Lòng ta ý gã mấy ai bằng

    Thôi thôi dại sớm thời khôn sớm
    Nhắn kẻ chưa què chớ vội khoe

    Hai đứa chung dòng nước Cửu Long
    Thương nhau chẳng gặp nát tan lòng

    Bẽ bàng lối cũ hoa chào gió
    Thổn thức canh trường nhạn khóc sương

    Quyên rầu rĩ tiếng chùng dây sắt
    Nhạn lẻ loi đường thẹn bóng gương

    Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo
    Đường đi thiên thẹo quán cheo leo

    Khi dang thẳng cánh bù khi cúi
    Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi

    Trai đu gối hạc khom khom cật
    Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

    Xiếu mai chi dám tình trăng gió
    Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh


    Thơ Thất Ngôn chẳng những tránh điệp vận ở những câu có vần, mà phải tránh cả ở những câu không vần nữa. Và chẳng những phải tránh ở chữ thứ 4 thứ 7, mà còn phải tránh cả ở những chữ thứ 2 và thứ 6 nữa.

    Thí dụ:

    Tình quê ấp ủ mùi hương cũ
    Tin bạn mơ màng bóng nhạn xa

    Nghĩ mình vốn cũng đa tình lắm
    Mà dạ người thương chẳng tỏ tường

    Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

    Điệp vận ở chữ thứ 4 và thứ 7 gọi là Đại Vận.
    Điệp vận ở chữ thứ 2 và thứ 6 gọi là Tiểu Vận.
    Cả hai đều là bệnh của thơ.
    Những điểm này sẽ được nói thêm trong phần Thi Bệnh sắp tới.
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  6. #6
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    Trong phần trước nói về Phép dụng tự, và bàn về làm thơ nên tránh những điệp thanh, điệp âm, điệp vận v.v... tức là tránh những bệnh của thơ.
    Thi bệnh không phải chỉ có bấy nhiêu, mà còn hàng chục bệnh khác nữa.
    Sau đây là phần trích bàn về:

    THI BỆNH

    Từ đời Tấn trở về trước, làng thơ không nói đến thi bệnh mặc dù bệnh đã có từ xưa. Đến đời Lục Triều (221-581) sang đời Tùy (581-621), các thi nhân gây ra phong trào nghiên cứu thanh vận, Thẩm Ước đề xướng thuyết Tứ Thanh, Bát Bệnh, được phần đông tao khách hưởng ứng, đem áp dụng vào thơ Ngũ Ngôn.
    Ngũ Ngôn ở đây là Ngũ Ngôn cổ thể.
    Ngũ Ngôn và Thất Ngôn Luật Thi đến đời Đường, nghĩa là gần nửa thế kỷ sau mới sản xuất.
    Cho nên tám bệnh của Thẩm Ước đưa ra không đem áp dụng vào thơ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn Đường Luật được. Mà chúng ta giảng cứu đây là giảng cứu về Luật Thi. Tuy vậy tưởng chúng ta cũng nên biết qua để làm giàu thêm cho cái vốn học vấn.
    Trước hết chúng ta nên biết rằng tám bệnh kia không phải Thẩm Ước đặt ra. Chính cũng như những bệnh dịch hạch dịch tả, bệnh phong bệnh lao ... ở ngoài đời. Những thi bệnh đã có trong thơ từ khi mới có thơ và thơ càng phát triển, thi bệnh càng sanh thêm nhiều. Thẩm Ước chỉ có công phát hiện và đặt cho mỗi bệnh cái tên. Để cho khách tri âm dễ nhận thấy bệnh, họ Thẩm mới giải rõ bệnh lý, mới tả rõ bệnh trạng, mới thuyết rõ bệnh căn.
    Nhận thấy được bệnh rồi thì tránh bệnh hoặc trị bệnh không đến nỗi khó khăn.

    Sau khi Thi luật được điển chế thì phần nhiều bệnh của Thơ Ngũ Ngôn không còn chỗ để xâm nhập. Song những bệnh này bị diệt trừ thì những bệnh khác lại sanh sản. Bởi hễ đời còn người, người dẫu đã văn minh tiến bộ đến đâu, vẫn còn bệnh; thì thơ còn chữ, dù chữ đã tinh luyện đến đâu, cũng vẫn còn bệnh như đời. Cho nên khách làng thơ Đường luật vẫn dùng những bệnh danh của Thẩm Ước để gọi những bệnh mới sanh trong thơ Cận Thể và tương tợ với những bệnh trong thơ Cổ Thể. Danh tuy đồng nhưng bệnh căn và bệnh trạng đều khác. Để bớt rườm rà, ở đây chỉ nói về những bệnh trong Thất Ngôn Luật Thi.

    Tám bệnh danh thường gặp của Thất Ngôn Luật Thi là:

    1. Bệnh Bình Đầu
    2. Bệnh Thượng Vỹ
    3. Bệnh Phong Yêu
    4. Bệnh Hạc Tất
    5. Bệnh Bàng Nữu
    6. Bệnh Chánh Nữu
    7. Bệnh Đại Vận
    8. Bệnh Tiểu Vận
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  7. #7
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    --------------------------------------------------------------------------------

    THI BỆNH (tiếp theo)

    Hôm nay chúng ta cùng nghiên cứu về thi bệnh thứ nhất, đó là bệnh

    1. BÌNH ĐẦU:

    Bệnh này nằm ở 2 hoặc 3 chữ đầu của 2 liên đứng kề nhau, tức là 2 hay 3 chữ đầu của 4 câu: 4 câu trước hoặc 4 câu giữa hoặc 4 câu sau trong bài bát cú.
    Hai hay 3 chữ đầu của 4 câu đứng liền nhau không được cùng một tự loại. Nếu cùng một tự loại thì đầu 4 câu trông bằng nhau như để thước mà xắn, nên gọi là Bình Đầu.
    Bệnh bình đầu ở Ngũ Ngôn có thể do trùng thanh độ mà có.
    Bệnh bình đầu ở Thất Ngôn Luật Thi do đồng tự loại mà ra.
    Cổ thể (thơ cổ phong) thì chỉ 2 câu liền nhau đã gây ra thi bệnh. Cận thể (thơ Đường luật) phải 4 câu liền nhau mới có thể sinh ra bệnh. Bệnh căn và bệnh trạng hai bên khác nhau là thế.
    Các bệnh khác đại để cũng vậy.

    Xin cử một vài thí dụ về bệnh Bình Đầu:

    1.
    HOA SEN

    Nắng sưởi ao xanh nắng ửng hường
    Bèo lây cốt cách súng lây hương
    Sắc ngời Ngân hán thô màu gấm
    Bóng dợn Thiềm cung thẹn dáng gương
    Ơn nước nặng mang tình uỷ ký
    Lòng tơ riêng vướng nợ văn chương
    Non xưa sực nhớ hồi ly biệt
    Tiếng hạc canh dài mộng vấn vương

    Liên Tâm


    2.
    LĂNG MAI XUÂN THƯỞNG

    Lưng ngựa ba đông dặm chiến trường
    Hoành sơn đá chất nghĩa Cần Vương
    Làu làu bóng rạng gương Hoàng Nguyễn
    Vọi vọi nền cao tiết Vũ Trương
    Ôm ấp hùng tâm bia chuốt ngọc
    Giữ gìn trung cốt đất sanh hương
    Trăng lên ba biểu chờ tin hạc
    Một nén tinh thành gió bốn phương

    Tú Xương


    3.
    CUNG OÁN (1)

    Trước ốc huỳnh hôn đứng vẩn vơ
    Thêm ngao ngán cảnh chạnh lòng thơ
    Hài hoa bước khẽ chiều tha thiết
    Mắt phụng trông chừng luống ngẩn ngơ
    Trướng bạc những khi hơi bích lọt
    Nhà vàng bao thuở thoả ân thừa
    Âm thầm luống chịu mình u bế
    Đừng trách đời Đường hạn chẳng mưa

    Khuyết danh


    4.
    CUNG OÁN (2)

    Hay cợt người chi một chữ tình
    Thôi đừng dở rối lại buồn tênh
    Giọng rầu rĩ dế càng đưa tiếng
    Mặt ủ ê hoa khéo đạm hình
    Gió phảng phất chiều kề trước giại
    Nguyệt mờ mệt vẻ hé bên mành
    Đến Dương bao nả hơi xuân bén
    Đành để riêng ai chịu bất bình

    Khuyết danh


    Hai bài Cung Oán này là 2 bài thơ cổ khuyết danh (không biết tác giả). Trong sách "Phép làm thơ", Diên Hương ghi là của Ôn Như Hầu. Tuy nhiên nhiều người nghi ngờ là không phải của Ôn Như Hầu vì bút pháp của Ôn Như Hầu rất lão luyện, còn văn chương 2 bài Cung Oán này (cũng như những bài Cung Oán khác) có phần kém thôi xao. Hai bài này được trích dẫn ra đây chỉ để trình bày về Thi Bệnh mà thôi.

    Hoàng Thứ Lang không có nhiều thì giờ sao lục, sưu tập những bài thơ theo từng loại thi bệnh của nhiều tác giả để cùng các bạn phân tích cho thêm phần phong phú.
    Tuy nhiên, nếu có thể được thì Hoàng Thứ Lang sẽ làm từ từ để có dịp hầu chuyện cùng các bạn.
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  8. #8
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    THI PHÁP: PHÂN TÍCH THƠ CỦA CÁC DANH GIA THI SĨ

    Topic nầy chỉ đơn cử mỗi tác giả 1-2 bài thơ điển hình, gặp đâu trích đó.
    Không thể trưng dẫn hết được, vì quá nhiều. Và cũng không thể lượt qua hết các tác giả.

    1. NGUYỄN KHUYẾN

    VỊNH MÙA HÈ

    Biếng trông trời hạ nước non xa
    Ý khí ngày thường nghĩ đã trơ
    Cá vượt khóm rau lên mặt nước
    Bướm len lá trúc lượn rèm thưa
    Thơ Đào cửa miệng đưa câu rượu
    Xóm Liễu quanh khe chịu tiếng khờ
    Nhân hứng cũng vừa toan cất chén
    Sấm đông rầm rập gió nồm đưa

    Nguyễn Khuyến


    Phân tích:

    Chúng ta nhận thấy bài thơ này bị thất đối ở cả 2 cặp trạng và luận. Nặng nhất là thất đối ở những chữ cuối câu.
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  9. #9
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    HỎI THĂM QUAN TUẦN BỊ MẤT CƯỚP

    Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
    Nó lại lôi ông đến giữa đồng
    Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
    Xương gà da cóc có đau không
    Bây giờ mới thấy trầy da trán
    Ngày trước đi đâu mất mảy lông
    Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
    Kẻo mang tiếng dại với phường ngông

    Nguyễn Khuyến


    Chúng ta nhận thấy bài này bị phạm lỗi đại vận và không chỉnh đối về phân tích tự loại.
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

  10. #10
    Silver Member PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
    Ngày gia nhập
    May 2009
    Bài viết
    1.866
    Thanks
    3.084
    Thanked 2.095 Times in 433 Posts

    Default Ðề: Bàn Về Thơ Đường

    CẢM HỨNG

    Ngày trước cũng lên lạy cửa trời
    Lâu nay vắng vẻ bặt tăm hơi
    Nước non man mác về đâu tá
    Bè bạn lơ thơ sót mấy người
    Đời loạn đi về như hạc độc
    Tuổi già hình bóng tựa mây côi
    Đã hay nhờ được hao mòn lắm
    Một thí lòng son chửa rõ mười

    Nguyễn Khuyến


    Bài thơ này cũng vậy, bị thất đối.
    Cụ Nguyễn Khuyến là một đại danh gia thi sĩ cho nên nhiều người đời sau không dám chê vì nghĩ rằng cụ học rộng hiểu nhiều nên làm thì phải đúng, mà đúng thì phải theo.
    Chúng ta phải khách quan mà nhận xét, không thể hùa theo như vậy. Cũng như nếu chúng ta viết sử thì không thể nói Trần Thiêm Bình, Lê Chiêu Thống là yêu nước được.
    Ta già chưa nhỉ em ơi?
    Để thơ hon hỏn vay đời nỗi đau.

Trang 1 / 3 123 LastLast

Posting Permissions

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời
  • Bạn không thể dùng tập tin đính kèm
  • Bạn không thể hiệu chỉnh bài
  •